Ong đất: Còn gọi là "ong bắp cày", "thổ phong", "mã phong" có tên khoa học là Discolia vittifronts Sch. Loài ong này hay làm tổ dưới đất nên thường gọi là "ong đất" (thổ phong). Tuy nhiên, nó còn có thể làm tổ trong thân cây mục. Thân ong có màu đen, nên một số người còn gọi là "ong đen" - nhưng cần lưu ý để khỏi lẫn với loài "ong đen"
Về tác dụng làm thuốc: Theo sách "Bản thảo thập di",
tác dụng của ong đất (thổ phong) giống như ong mật (mật phong tử): Trừ
phong, giải độc, sát trùng. Dùng chữa đầu phong, phong tê thấp, ma
phong, đơn độc, phong chẩn ...
Như vậy việc sử dụng ong đất ngâm rượu để chữa phong
thấp, đau nhức là một kinh nghiệm có từ lâu đời và đã được ghi lại
trong sách Đông y. Còn việc sử dụng ong đất ngâm rượu làm thuốc bổ,
chúng tôi chưa tìm thấy tài liệu đề cập. Ngoài ra, như trên đã nói, tác
dụng của ong đất tương tự ong mật, vì vậy khi cần có thể dùng ong mật
thay thế.
Ấu trùng ong đất (thổ phong tử), cũng được sử dụng làm
thuốc. Theo sách "Bản thảo thập di": Ấu trùng ong đất có vị ngọt, tính
bình, có độc. Có tác dụng chữa ung nhọt, đơn độc, phong chẩn, nhiệt
tích trong bụng, đại tiểu tiện khó khăn, phụ nữ khí hư, bạch đới, ...
Kiêng kỵ: Dùng ấu trùng ong đất cùng với các vị thuốc "hoàng cầm", "bạch thược" và "mẫu lệ" sẽ bị giảm tác dụng.
Ngoài công dụng làm thuốc, người ta còn dùng ấu trùng
để chế biến món ăn, nhưng cần chế biến đúng phương pháp để tránh bị ngộ
độc. Theo sách "Nhật hoa tử bản thảo", khi dùng ấu trùng ong đất để ăn,
cần chế biến cùng với bí đao và mướp đắng, gừng tươi, tía tô để khử độc.
Ong đen: So với ong đất, ong đen được
sử dụng rộng rãi hơi trong Đông y và trong dân gian. Ong đen còn có tên
là "ong vò vẽ" (bò vẽ), "ong mướp", "ô phong", "hùng phong", "tượng
phong"... Tên chính thức trong Đông y Trung Quốc là "trúc phong", tên
khoa học là Xylocoba dissimilis (Lep). Ngoài con ong đen trên, người ta
còn dùng ong đen Xylocopa phalothorax nhỏ hơn, nhưng không dùng con có
đốm trắng ở đầu.
Ong đen sống khắp nơi. Tại miền Nam Trung Quốc, người
ta thường bắt ong này vào mùa thu đông, là mùa ong sống trong ống tre,
ống nứa. Sau khi biết ong ở đâu, người ta nút kín ống tre hay ống nứa
lại, hơ nóng cho ong chết, sau đó chẻ ra lấy ong dùng. Ong đen phải sấy
cho khô, không nên phơi nắng dễ hỏng và dễ mốc, mọt hơn.
Theo Đông y, ong đen có vị ngọt chua, tính hàn, không
độc, vào 2 kinh vị và đại trường. Có tác dụng thanh nhiệt, tả hỏa, trừ
phong. Dùng trong những trường hợp sâu răng, miệng lở loét, đau cổ
họng, trẻ con kinh phong ...
Liều dùng: Ngày dùng 2 - 4 con, hoặc 2 - 3g, tán nhỏ uống.
Kiêng kỵ: Theo tài liệu cổ những người hư hàn, không có "hỏa", không nên dùng.
Ngâm rượu trong bao lâu ? Rượu thuốc là hình thức dùng
rượu làm dung môi, để hòa tan (chiết xuất) các hoạt chất trong vị
thuốc. Thời gian ngâm tùy thuộc vào loại thuốc và dạng thuốc. Mục đích
cuối cùng là chiết xuất được toàn bộ hoạt chất của thuốc vào trong
rượu, làm giảm bớt độ độc của vị thuốc và của rượu.
Một số loại thuốc cần ngâm trong một thời gian dài, để
chất thuốc ngấm hết vào trong rượu và các chất độc có thời gian phân
giải. Chúng tôi chưa có kinh nghiệm sử dụng ong vò vẽ ngâm rượu uống.
Nhưng thiển nghĩ, cần gì phải vội vàng, cứ ngâm đủ 100 ngày rồi uống
vẫn hơn. Trích từ _ Khoa học
|